TẬP ĐOÀN CÔNG NGHIỆP THAN- KHOÁNG SẢN VIỆT NAM 30 NĂM XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN
Chặng đường 30 năm thành lập Tổng công ty Than Việt Nam, nay là Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (10/10/1994 - 10/10/2024 trải qua rất nhiều gian nan, vất vả thăng trầm, nhưng các thế hệ thợ mỏ TKV luôn luôn tự hào về những thành tích và đóng góp của mình trong sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa, 30 năm xây dựng và phát triển của TKV là chặng đường không ngừng kiến tạo để bứt phá.
Thứ nhất, trong lĩnh vực kinh doanh chủ lực công nghiệp than: TKV đã đẩy nhanh tốc độ phát triển ngành Than một cách bền vững để đáp ứng nhu cầu than trong nước ngày càng tăng cao, góp phần đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, ổn định kinh tế vĩ mô và phát triển kinh tế - xã hội.
Với vai trò là tập đoàn kinh tế trụ cột của đất nước về năng lượng, là công cụ điều tiết vĩ mô của Chính phủ, vị thế của TKV ngày được khẳng định. Trong lĩnh vực kinh doanh chủ lực là công nghiệp than, kế thừa và phát huy truyền thống ngành Than, nhất là trong 5 năm gần đây, TKV đã đẩy nhanh tốc độ phát triển ngành Than một cách bền vững, đáp ứng nhu cầu than trong nước, luôn đảm bảo vai trò cung ứng năng lượng cho các ngành sản xuất trọng điểm, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp công nghệ hóa, hiện đại hóa đất nước. So với năm đầu thành lập Tổng Công ty Than Việt Nam (1994), toàn ngành mới chỉ sản xuất ở ngưỡng 7 triệu tấn than/năm, đến nay sản lượng than bình quân của TKV đạt từ 40-45 triệu tấn/năm, tăng gần 7 lần. Trải qua rất nhiều gian nan, vất vả, thăng trầm nhưng các thế hệ thợ mỏ TKV hôm nay có thể tự hào về những thành tích và đóng góp của mình trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Tổng doanh thu than từ 1,3 ngàn tỷ đồng năm 1994 tăng lên 170 nghìn tỷ đồng năm 2023, gấp 130,7 lần so với thời điểm Than Việt Nam ra đời.
Trong giai đoạn từ năm 2021 đến hết 6 tháng đầu năm 2023, công tác đầu tư tại các đơn vị trong Tập đoàn được kiểm soát một cách chặt chẽ; thực hiện đầu tư tập trung chủ yếu cho các dự án, công trình phục vụ trực tiếp cho việc tăng năng lực sản xuất trong các lĩnh vực kinh doanh chính. Trong quá trình triển khai kế hoạch đầu tư, TKV chỉ đạo thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; không triển khai các dự án đầu tư chưa được xem xét, tính toán, đánh giá hiệu quả kinh tế.
Có thể đánh giá từ năm 2021 đến nay, TKV đã hoàn thành tốt nhiệm vụ, sản xuất đủ than để đáp ứng nhu cầu sử dụng trong nước của các hộ tiêu dùng theo các hợp đồng dài hạn đã ký, góp phần cân đối vĩ mô, giữ ổn định sản xuất, ổn định việc làm và thu nhập cho người lao động. Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ nộp ngân sách Nhà nước ở mức cao; không những bảo toàn và phát triển vốn của Nhà nước mà còn có tích lũy được nguồn lực để thực hiện tăng vốn chủ sở hữu trong giai đoạn tới. Tính từ năm 2021 đến nửa đầu 2023, tổng doanh thu toàn Tập đoàn là 396 nghìn tỷ đồng, đạt 59% so với kế hoạch; tổng lợi nhuận trước thuế là 18,6 nghìn tỷ đồng, đạt 103% so với kế hoạch; nộp ngân sách nhà nước là 57,7 nghìn tỷ đồng, đạt 55% so với kế hoạch; than sạch thành phẩm 103,6 triệu tấn, đạt 50% so với kế hoạch; sản lượng than tiêu thụ là 117,3 triệu tấn, đạt 56% so với kế hoạch; sản lượng điện 23,4 tỷ kwh, đạt 46% kế hoạch.
TKV đã đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại vào sản xuất để tăng năng suất lao động, tăng sản lượng khai thác, an toàn lao động và đặc biệt là tiết kiệm nguồn tài nguyên khoáng sản của đất nước.
Với các mỏ hầm lò, TKV tăng cường sử dụng công nghệ khai thác hiện đại như hệ thống cơ giới hóa đồng bộ khai thác than cùng các hệ thống khai thác giếng đứng sâu đến -350 và - 500 mét. Số mét lò chống bằng công nghệ neo năm 2019 vượt trên 40.000 mét, đạt trên 18% tổng số mét lò đào. Cùng với đó, cơ giới hoá, tự động hoá cũng được đẩy mạnh áp dụng vào các khâu thông gió và kiểm soát khí mỏ, thoát nước trong hầm lò.
Các mỏ lộ thiên, TKV đã đầu tư các loại ô tô vận tải chở đất đá có tải trọng lên đến 130 tấn, khai thông các mỏ lộ thiên để tạo ra những khai trường lớn hơn, từng bước băng tải hóa vận chuyển than, đất đá và sử dụng công nghệ vận tải liên hợp ô tô - băng tải tại Mỏ than Cao Sơn với công suất 20 triệu m3/năm để giảm giá thành và cải thiện bờ mỏ. Cùng với đó, Tập đoàn đẩy mạnh hiện đại hóa khâu sàng tuyển, dịch vụ cung ứng than...
Thứ hai, TKV đã chủ động ứng dụng tự động hoá, tin học hoá vào quá trình SXKD và công tác quản lý điều hành. Từ cơ quan Tập đoàn đến các đơn vị đều đã quan tâm đầu tư mạng hạ tầng truyền thông số tốc độ cao, kết hợp xây dựng các trung tâm điều khiển giám sát tập trung hiện đại có khả năng bao quát toàn mỏ và điều khiển tập trung.
Hiện tại, TKV đang tiếp tục triển khai các phần mềm ứng dụng phục vụ công tác điều hành sản xuất như: Phần mềm hoá đơn điện tử, phần mềm “Quản lý, dự báo tâm lý an toàn, sức khoẻ cho người lao động mỏ hầm lò”, vòng nhận diện cấp phát nhiên liệu thông minh tại các công ty than khai thác lộ thiên, “Hệ thống giám sát lưu chuyển than”…
Các công nghệ tự động hóa, tin học hóa trong vận hành, điều khiển giám sát cũng được áp dụng triệt để, nhằm hiện đại hóa quá trình sản xuất, giảm lao động thủ công trực tiếp, tiết giảm chi phí và nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh. Lộ trình chuyển đổi số trong các doanh nghiệp ngành Than cũng đang được triển khai từng bước, bài bản và khoa học. Từ năm 2021 đến nay, Tập đoàn đã ứng dụng hệ thống quản lý và khai thác dữ liệu địa chất; nâng cấp hệ thống quản lý văn bản và điều hành tác nghiệp; triển khai hệ thống hóa đơn điện tử với phần mềm báo cáo kế toán hợp nhất. Đây là những phần mềm hiện đại giúp các đơn vị TKV ứng dụng công nghệ thông minh trong sản xuất, nâng cao quản lý điều hành, tiết kiệm thời gian xử lý đầu mối công việc.
Trên nền tảng hạ tầng sẵn có và những thành tựu ban đầu của công cuộc chuyển đổi số, TKV đặt mục tiêu chuyển đổi số thành công vào năm 2025. Theo đó, hầu hết các hoạt động của Tập đoàn sẽ được chuyển đổi trên nền tảng số, tận dụng sức mạnh của công nghệ số, dữ liệu số để gia tăng hiệu quả hoạt động, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, nâng cao năng suất lao động, từ đó khẳng định vị trí vững vàng của ngành Than Việt Nam sẵn sàng đáp ứng các chuẩn mực quốc tế về quản trị doanh nghiệp, đồng thời góp phần quan trọng cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Thứ ba, trong công nghiệp khai thác khoáng sản: TKV đã phát triển theo hướng tăng cường chế biến sâu, tạo ra sức đột phá mạnh mẽ, nâng cao giá trị gia tăng và hiệu quả kinh tế của Tập đoàn.
TKV đã đầu tư đồng bộ các tổ hợp khai thác đến chế biến kim loại bao gồm: alumina, đồng, chì, kẽm, thiếc, gang thép, cromit và các kim loại khác. Mỗi năm, Tập đoàn sản xuất trên 11 nghìn tấn đồng tấm; 11 nghìn tấn kẽm thỏi, 180 nghìn tấn phôi thép.
Đặc biệt, với việc thực hiện thành công hai dự án thí điểm khai thác bauxite tại địa bàn chiến lược Tây Nguyên theo chỉ đạo của Bộ Chính trị, TKV đã đặt nền móng cho nền công nghiệp mới của Việt Nam, đó là ngành công nghiệp chế biến alumin - nhôm. Năm 2018, TKV sản xuất và tiêu thụ 1,3 triệu tấn alumina, giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt trên 520 triệu USD; đến năm 2023….. đã đóng góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế Vùng Tây Nguyên. Các dự án bauxite đã bước vào giai đoạn có lãi.
Thứ tư, trên nền của ngành công nghiệp than, TKV đã phát triển thành công các lĩnh vực nhiệt điện, thủy điện; vật liệu nổ công nghiệp, cơ khí, vật liệu xây dựng và các lĩnh vực khác liên quan đến ngành nghề kinh doanh chính.
Hiện tại, TKV đã đầu tư 7 nhà máy điện với tổng công suất thiết kế 1.730 MW. Sản lượng điện sản xuất và tiêu thụ hàng năm của TKV từ 9,5 -10 tỷ kWh, với doanh thu 12,5 nghìn tỷ đồng/năm.
Tính đến tháng 10/2019, TKV đã sản xuất và tiêu thụ 84 tỷ kWh điện, sản xuất và tiêu thụ 5,5 triệu tấn Alumin, sản xuất 950 tấn thuốc nổ, sản xuất và tiêu thụ 22 triệu tấn xi măng các loại.
Đặc biệt, giai đoạn 5 năm gần đây, khối khoáng sản, điện lực, hoá chất của Tập đoàn đã tăng trưởng mạnh mẽ, khẳng định vai trò, vị trí và sự đóng góp ngày càng quan trọng đối với phát triển bền vững của Tập đoàn.
Cụ thể, doanh thu của khối khoáng sản, hóa chất và điện lực đã đạt xấp xỉ 30% tổng doanh thu của Tập đoàn với tốc độ tăng trưởng bình quân 9,6%/năm; lợi nhuận chiếm tỷ trọng 34,4% toàn Tập đoàn. Điều này đã khẳng định chiến lược phát triển hết sức đúng đắn mà các thế hệ lãnh đạo của Tập đoàn đã xây dựng và chỉ đạo thực hiện thành công.
Thứ năm, cùng với sự tăng trưởng về hiệu quả SXKD, đời sống của người lao động không ngừng được cải thiện nâng cao.
Tiền lương bình quân của người lao động năm 2023 đạt trên 16,7 triệu đồng/người-tháng, tăng 19 lần so với khi thành lập. Trong đó, tiền lương của thợ mỏ hầm lò đã đạt bình quân 21 triệu đồng/tháng. Đặc biệt, số thợ mỏ có mức thu nhập trên 300 triệu đồng/năm ngày một đông đảo.
Hiện nay trong Tập đoàn có 25 đơn vị có nhà ở tập thể cao tầng cho công nhân với 3.945 phòng ở. Hầu hết đã đầu tư trang bị máy điều hòa nhiệt độ, máy lọc nước, máy giặt, khu rèn luyện thể chất, nhà sinh hoạt văn hoá phục vụ đời sống tinh thần cho thợ mỏ.
Ngoài việc thực hiện các chế độ đối với người lao động theo quy định chung của Nhà nước, TKV còn thực hiện thêm các chế độ phúc lợi đặc thù cho thợ mỏ hầm lò như hỗ trợ miễn phí các chi phí đào tạo nghề, điều trị rửa phổi, bố trí xe ô tô đưa đón đi làm, ăn định lượng, tắm nước nóng và giặt quần áo bảo hộ lao động, làm sạch mũi sau ca làm việc, tham quan, du lịch ở trong và ngoài nước.
Đảng và Nhà nước cũng đặc biệt quan tâm đến đội ngũ thợ mỏ. Theo đó chế độ nghỉ hưu của thợ mỏ hầm lò được giảm 10 tuổi so với quy định. Nhiều đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các Bộ, Ngành khi tới thăm và làm việc với TKV đều đặc biệt đánh giá cao việc Tập đoàn đã thực hiện tốt các chế độ chính sách và nỗ lực chăm lo chu đáo đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động.
Thứ sáu, với chiến lược phát triển bền vững, trong 30 năm qua, TKV đã giải quyết cơ bản những tác động của quá trình khai thác tới môi trường trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh và nhiều địa phương khác.
Trong chiến lược phát triển bền vững, TKV luôn xác định rõ: “Từ tài nguyên khoáng sản và nguồn nhân lực đi lên giàu mạnh”; hài hoà với môi trường; hài hoà với địa phương và cộng đồng; phát triển sản xuất, kinh doanh phải gắn liền với bảo vệ môi trường, phát triển bền vững theo hướng kinh tế xanh, thân thiện với môi trường.
Trong những năm qua, Tập đoàn đã triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm bảo vệ môi trường cũng như giảm thiểu tác động môi trường trong quá trình sản xuất kinh doanh. Hằng năm, TKV đều dành kinh phí trên 1.300 tỷ đồng cho công tác bảo vệ môi trường trong toàn Tập đoàn, trong đó riêng vùng Quảng Ninh khoảng 1.100 tỷ đồng. Hiện TKV đang vận hành 36 hệ thống quan trắc môi trường tự động; 02 hệ thống quan trắc môi trường khí thải nhà máy nhiệt điện đảm bảo quy định và 02 công trình giảm thiểu bụi, ồn… đồng thời duy trì vận hành có hiệu quả các công trình môi trường đã đầu tư, tiếp tục đầu tư khởi công mới công trình môi trường, nhất là các công trình cải thiện môi trường cảnh quan các mặt bằng sản xuất.
TKV đang tiếp tục chỉ đạo các đơn vị rà soát, đầu tư xây dựng nâng công suất các trạm xử lý nước thải mỏ; đầu tư máy phun sương dập bụi cao áp; xây dựng các trạm rửa xe trước khi ra khỏi mỏ… Ðặc biệt hướng tới phát triển kinh tế tuần hoàn, TKV đang tái sử dụng đất đá thải mỏ phục vụ san lấp mặt bằng các dự án, góp phần giảm áp lực độ cao, bảo đảm an toàn cho các bãi thải. Bên cạnh đó tiếp tục trồng cây phủ xanh các khai trường, tiếp tục xây dựng mô hình "mỏ xanh, mỏ hiện đại, mỏ sản lượng cao" và thực hiện mục tiêu "đưa công viên vào trong mỏ, nhà máy". Công tác phòng, chống thiên tai cũng được các đơn vị chủ động triển khai thực hiện theo đúng kế hoạch đề ra; không để xảy ra thiệt hại lớn về người và tài sản. Chủ động khắc phục hậu quả sau các trận mưa lớn không để ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất.
Cùng với đó, TKV đã tiến hành di chuyển nhiều cơ sở vật chất kỹ thuật sản xuất than ra khỏi các trung tâm thành phố, góp phần cải thiện môi trường cảnh quan và phát triển đô thị của Vùng Mỏ.
Thứ bảy, hoạt động SXKD của TKV luôn có lãi, bảo toàn, phát triển vốn Nhà nước, đồng thời không ngừng tăng cường năng lực tài chính của Tập đoàn.
Liên tục từ năm 2005 đến nay, lợi nhuận trước thuế và tỷ suất lợi nhuận trước thuế trên vốn Chủ sở hữu của TKV luôn đạt mức cao trung bình từ 32 - 42 %. Những năm đầu thành lập, vốn chủ sở hữu là 900 tỷ đồng, đến nay đã tăng lên 35 ngàn tỷ, gấp 37 lần, hoàn toàn do TKV tự tích luỹ. Tổng tài sản là 129 ngàn tỷ, tăng 5,38 lần so với năm 2005. Doanh thu tăng từ 1.850 tỷ lên hơn 170.000 tỷ đồng. Lợi nhuận trước thuế tăng từ 12 tỷ lên 8000 tỷ đồng.
Thứ tám, TKV đã luôn hoàn thành nghĩa vụ đối với ngân sách Nhà nước ở mức cao nhất, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, cải thiện cán cân thương mại và thực hiện nghiêm túc trách nhiệm xã hội đối với cộng đồng.
Theo thống kê, nộp ngân sách Nhà nước đã tăng từ 120 tỷ đồng năm 1995 lên 29.000 tỷ đồng năm 2023.
Trên chặng đường 30 năm hình thành và phát triển, TKV luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ Chính phủ giao, là doanh nghiệp nòng cốt chịu trách nhiệm sản xuất, cung ứng than cho nền kinh tế. Cùng với PVN, EVN, TKV là một trong ba trụ cột, góp phần đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia.
Thứ chín, TKV cũng đồng thời là công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
Thông qua việc kiểm soát giá bán than của TKV, Nhà nước đã điều tiết giá đầu vào của các ngành công nghiệp khác, đặc biệt là than dùng để phát điện, từ đó góp phần bình ổn sản xuất trong nước và ổn định đời sống nhân dân.
Cùng với tiến trình hội nhập quốc tế của cả nước, trong 30 năm qua từ Tổng Công ty Than Việt Nam đến Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam ngày nay, TKV đã có quan hệ hợp tác và là bạn hàng thân thiết của Tập đoàn Điện lực Việt Nam, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam và các Tập đoàn, Tổng Công ty Nhà nước, các Ngân hàng Thương mại, các Doanh nghiệp thuộc nhiều thành phần kinh tế của Việt Nam. TKV cũng là bạn hàng, đối tác tin cậy của các tổ chức quốc tế, các doanh nghiệp và định chế tài chính lớn trên thế giới ở ASEAN, ở Châu Á, Châu Âu, Châu Mỹ…; TKV - Vinacomin có được thành công như hôm nay là nhờ sự hợp tác, giúp đỡ to lớn và hiệu quả của các bạn hàng, đối tác.
Thứ mười, trong quá trình hoạt động, TKV luôn chú trọng, tích cực trong các hoạt động an sinh xã hội, góp phần đảm bảo tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp, vào sự phát triển mạnh mẽ kinh tế, xã hội các địa phương nơi có hoạt động của TKV, nhất là tại tỉnh Quảng Ninh, Lào Cai, Đắk Nông, Lâm Đồng, Thái Bình, Bắc Giang…
Vai trò tham gia giữ vững ổn định, phát triển kinh tế và xã hội của địa phương và đất nước của TKV được thể hiện rõ nét nhất tại tỉnh Quảng Ninh với việc đảm bảo việc làm, thu nhập ổn định, đảm bảo an sinh xã hội cho khoảng 30 - 35% dân số của tỉnh Quảng Ninh. Phần nộp ngân sách của TKV giai đoạn 2010 ÷ 2023 chiếm tỷ trọng khoảng 42% tổng thu ngân sách của tỉnh Quảng Ninh và bằng 70% tổng thu nội địa của tỉnh.
TKV cũng là doanh nghiệp Nhà nước điển hình về các hoạt động xã hội từ thiện. 10 năm liên tục trở lại đây, TKV luôn tích cực tham gia Chương trình 30A của Chính phủ giúp đỡ 3 huyện nghèo thuộc các Tỉnh Hà Giang, Bắc Kạn và Lâm Đồng, ngoài ra còn tham gia các hoạt động xã hội, từ thiện của tỉnh Quảng Ninh và các địa phương khác với kinh phí hàng năm hàng trăm tỷ đồng.
Mục tiêu chiến lược của TKV là xây dựng TKV thực sự trở thành một Tập đoàn kinh tế Nhà nước mạnh, có thương hiệu và sức cạnh tranh trong khu vực, có cơ cấu sản xuất - kinh doanh hợp lý, tập trung vào các lĩnh vực SXKD than - khoáng sản, điện, vật liệu nổ công nghiệp, cơ khí, vật liệu xây dựng; mở rộng hợp tác kinh doanh quốc tế; nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh, phát triển bền vững đi đôi với bảo vệ môi trường, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia và thúc đẩy các ngành kinh tế đất nước cùng phát triển.
Đứng trước yêu cầu của sản xuất và những thách thức của thị trường, hơn bao giờ hết, TKV xác định việc tái cơ cấu, sắp xếp lại các doanh nghiệp theo chỉ đạo của Chính phủ, tiếp tục hoàn thiện tổ chức hệ thống để tạo ra năng suất cao hơn, sức cạnh tranh tốt hơn là những nhiệm vụ quan trọng mà toàn Tập đoàn đang tiếp tục triển khai thực hiện.
Với những thành tích đạt được, Tập đoàn TKV vinh dự được Đảng, Nhà nước trao tặng những phần thưởng cao quý: Huân chương Sao Vàng, năm 1996; Danh hiệu Anh hùng Lao động, năm 2005; Huân chương Độc lập hạng Ba, năm 2014 và một số danh hiệu cao quý khác.
Truyền thống “Kỷ luật và Đồng tâm” là tài sản tinh thần vô giá của các thế hệ thợ mỏ và ngày càng được các thế hệ cán bộ, công nhân, người lao động phát huy mạnh mẽ, lan tỏa những giá trị tích cực trong điều kiện mới, phù hợp với tình hình cụ thể hiện nay của Tập đoàn, trở thành sức mạnh nội lực, giúp TKV luôn vượt qua những khó khăn thách thức, đạt được những thành công trong quá trình xây dựng và phát triển.
Với tinh thần “khó khăn gấp đôi, nỗ lực gấp ba”, quyết tâm đổi mới sáng tạo không ngừng, tập thể người lao động Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam “siết chặt tay nhau” thích ứng an toàn, linh hoạt, người lao động hăng say lao động sản xuất, tăng ngày công làm việc, tăng năng suất lao động, ổn định sản xuất kinh doanh, duy trì tăng trưởng và phấn đấu hoàn thành vượt mức và toàn diện các mục tiêu, chỉ tiêu hằng năm.
Công tác đào tạo, bồi dưỡng lao động quản lý trong TKV đã từng bước đổi mới để phù hợp với nhiệm vụ chuyển đổi số và chú trọng về mặt chất lượng đào tạo, xây dựng đội ngũ cán bộ công nhân mỏ đáp ứng yêu cầu giai đoạn công nghiệp hóa - hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Hàng năm đều có đánh giá kết quả thực hiện để khắc phục các tồn tại, đề xuất các giải pháp phù hợp. Bên cạnh đó, TKV đã ban hành một số cơ chế khuyến khích người lao động phấn đấu học tập nâng cao trình độ như: xây dựng quy định kèm cặp, truyền nghề có cơ chế đãi ngộ phù hợp; khuyến khích học liên thông cho người lao động; ban hành Phương án tuyên truyền, truyền thông của TKV phục vụ công tác tuyển sinh công nhân kỹ thuật các nghề mỏ hầm lò...
Đội ngũ công nhân, người lao động TKV không ngừng lao động sáng tạo, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, nhiều năm liền đều có các tập thể, cá nhân xuất sắc, được vinh danh trong chương trình “Vinh quang Việt Nam” điển hình cho ý chí, khát vọng, vượt mọi khó khăn, quyết tâm phát huy triệt để sức mạnh nội lực, phát huy tính tự lực tự cường để đứng vững và vươn liên trước thách thức.
Đồng thời TKV cũng gắn việc bồi dưỡng toàn diện với chăm lo, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động. Việc làm của người lao động trong TKV được duy trì ổn định, thu nhập năm sau cao hơn năm trước. Tiếp tục quan tâm duy trì và thực hiện các chế độ phúc lợi có lợi hơn cho người lao động mang tính chất đặc thù của TKV như: Phòng và điều trị bệnh nghề nghiệp bằng phương pháp rửa phổi; bồi dưỡng độc hại; chế độ tham quan, nghỉ mát; xe đưa đón,…
Phát huy truyền thống văn hóa thợ mỏ cũng là nhân lên truyền thống tương thân, tương ái, thể hiện trách nhiệm cao của TKV trong việc chung tay với cộng đồng. duy trì công tác hỗ trợ an sinh xã hội tại các địa phương có hoạt động sản xuất kinh doanh của TKV; hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu tại các huyện nghèo, xã nghèo; hỗ trợ xóa nhà tạm, nhà hư hỏng, dột nát; ủng hộ biên giới, hải đảo; gia đình cán bộ, chiến sĩ, ngư dân bám biển; công tác cứu trợ thiên tai, bão lũ; đền ơn đáp nghĩa; hỗ trợ xóa đói giảm nghèo...
Nhìn lại chặng đường phát triển chính bài học truyền thống “Kỷ luật và đồng tâm” đã giúp TKV đứng vững trước những biến cố thăng trầm của lịch sử có thể kể đến cuộc khủng khoảng tài chính của thế giới năm 1999 dẫn tới sản phẩm than không bán được bị tồn đọng, công nhân thiếu việc làm phải nghỉ luân phiên, trận mưa lũ lịch sử cuối tháng 7 đầu tháng 8/2015 đã làm thiệt hại cho TKV trên 1500 tỷ đồng, mỏ Mông Dương phải dừng sản xuất để khôi phục trên 3 tháng, đợt dịch Covid-19 bùng phát cuối năm 2019 đến đầu quý II năm 2022 đã tác động rất lớn tới điều kiện sản xuất kinh doan của TKV, khó khăn là thế nhưng không làm những ngươì thợ mỏ mà nét tiêu biểu ngày nay là hình ảnh “Người thợ mỏ-Người chiến sĩ” gục ngã, đội ngũ thợ mỏ luôn đứng vững luôn sẵn sàng vượt qua khó khăn thử thách, một lòng trung thành với Đảng, đồng hành chung sức xây dựng TKV hướng tới sự phát triển bền vững, đảm bảo một trong những trụ cột an ninh năng lượng quốc gia./.
-----------------------------------------------------
|